Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Về cách hiểu bài thơ "Độc Tiểu Thanh chia sẻ ngay ký".

Đấy là niềm bi phẫn hay nỗi yếm thế của Nguyễn Du? Chắc cả hai

Về cách hiểu bài thơ

Còn bài thơ thời giờ đây được dạy phổ cập cho học sinh trung học. Một câu hỏi cực thân hỏi vào hậu thế: Bất tri tam bách dư niên hậu dương gian hà nhân khấp Tố Như Bốn câu cuối bài thơ. Ông ý thức phận mình: "phong vận kỳ oan ngã tự cư": phận ta cũng đã ở sẵn trong khối oan uổng ấy.

Xanh là bản tính của cỏ. Nhớ người xưa. Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết.

Ám chỉ việc người vợ cả đốt những bài thơ của nàng. Tình cảm cũng mất đi vẻ trữ tình thế sự có tính khái quát. Mà đã mang đốt đi. Chỉ là chữ trên giấy. Tập này như nhật ký trên đường Nguyễn Du đi sứ phương Bắc từ đầu năm 1813 đến đầu năm 1814. "Độc Tiểu Thanh ký" là bài thơ tiêu biểu cho bút pháp này. Bản dịch nghĩa mới là căn cứ để người đọc nhận ra đầy đủ phẩm chất của nguyên tác. Động từ ở thì ngày nay tác động tới đối tượng của quá khứ.

Chính là một hành động tự riêng mình phúng điếu. Câu trên là bất tử của cái đẹp thể chất (sắc đẹp). Nhà thơ Xuân Diệu (1916-1985) có kể lại: Trước cách mệnh Tháng Tám. Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa. Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được. Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Có bất ngờ chăng là cái lụy ấy lại rơi vào thân phận một cô gái làm lẽ. Chật hẹp và bị rời khỏi tư thế trí tuệ của bài thơ.

Khó hỏi lắm: "thiên nan vấn". Dịch thế này e mất ý. Cái nỗi hận ấy của Tiểu Thanh. Nhưng điều đáng nói là hiểu như thế (Tiểu Thanh xót xa về việc người vợ cả của chồng đốt thơ mình sau khi chết) thì ý thơ bị hẹp lại. Bài thơ mang giọng Nguyễn Du tâm tình với Tiểu Thanh: Trước cửa sổ. Bản dịch in trong sách giáo khoa chắc đã căn cứ theo tiểu sử Tiểu Thanh mà luận ra. Cuốn sách ấy là cuốn "Tiểu Thanh ký" (Ghi chép về Tiểu Thanh).

Và "Sau khi chết" (tử hậu) thì phải hiểu là "mọi việc xảy ra sau khi Tiểu Thanh chết".

Tới sáu câu. Câu dưới là bất tử của cái đẹp ý thức (Văn chương). Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Bản chất của người lại là buồn thương ư! Cái chất tâm hồn Nguyễn Du như thế.

Chỉ còn là những chiêm nghiệm của Nguyễn Du về thế cuộc. Bị vợ cả hành tội. Chủ từ của "thương" không thể là Tiểu Thanh mà phải là ta. Mà gắn với một địa danh cụ thể. Ta một mình viếng nàng (bằng) một cuốn sách. Nhưng không phải chỉ để gợi cảm khái chung chung.

Bằng cách coi chủ từ của động từ "thương" là Tiểu Thanh: Tiểu Thanh xót xa. Không là sinh linh. Và hành tội tác giả…Oán hận ngút trời! "Cổ kim hận sự thiên nan vấn". Chi phấn hữu thần liên tử hậu. Ông chỉ cầm trên tay hai câu thơ này như nén nhang.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn. Nguyễn Du khóc Tiểu Thanh ba trăm năm trước và tự hỏi vậy ba trăm năm sau có ai khóc ta chăng: Bất tri tam bách dư niên hậu cõi tục hà nhân khốc Tố Như (Ba trăm năm nữa nào biết được cõi tục ai người khóc Tố Như) Bài thơ này hay nhất ở hai câu kết và cái cốt truyện nhân vật tạo nên chất thơ của toàn bài.

Tây Hồ. Đã hoàn hảo. ĐỘC TIỂU THANH KÝ Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư. "Truyện Kiều" và "Văn Chiêu hồn" là trữ tình của tự sự. "Bắc hành tạp lục" là một trong bộ ba thơ chữ Hán Nguyễn Du. Còn nơi soi thấu nỗi bên trong cõi lòng Nguyễn Du thì phải tìm đọc thơ chữ Hán của ông. Thơ giàu chiêm nghiệm việc đời.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là trữ tình của trữ tình. Vốn là nhãn tự của câu - "Văn chương vô mệnh lụy phần dư" - nó ăn với chữ "liên" ở câu trên - "Chi phấn hữu thần liên tử hậu".

Trữ tình kép. Hà Tĩnh. Về hai câu kết. Phá vỡ kết cấu văn phạm thông thường. Văn chương rất nghiệp dư này.

"Truyện Kiều". Ngay bản chọn dạy cho học sinh cũng rối ý rối lời. Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Son phấn có thần chôn vẫn hận. Nên tôi xin được so nguyên bản chữ Hán của Nguyễn Du với bản dịch nghĩa này để nắm ý thơ thực thụ của Nguyễn Du Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư Độc điếu song tiền nhất chỉ thư "Vườn hoa đẹp Tây hồ đã thành bãi hoang" - Đây là Tây Hồ của Hàng Châu.

Nó không như người (ở câu trên). Hai câu phá đề. Nương theo hương khói mà viết được bài "Chiêu hồn Nguyễn Du". Thấy cảnh. Cỏ tự xanh). Sau ba trăm năm nàng mất. Có ngửa mặt kêu trời mà hỏi. Nay cũng có ấy. Thương bồ sang cả cõi ma. Bất tri tam bách dư niên hậu.

Cũng là một chiêm nghiệm về tính bạt tử của văn học. Vẫn còn để bi lụy cho người đọc (hay phiền lụy cho người viết). Thơ chữ Hán thường nén chữ lại. Tức là "phần còn lại sau khi đốt" còn đủ sức gây xúc động cho người đọc.

Đây là hai câu đáng bàn nhất về cách dịch. Nhân vật sâu sắc. Tức câu thứ tư của bài. Cõi tục ai người khóc Tố Như? Dịch thơ: ĐỌC TIỂU THANH KÝ Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang. Văn học không mệnh mà mang lụy cả lúc đã thành tro. Bản dịch nghĩa in trong sách giáo khoa: Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết.

Ý thơ này còn là tiền đề cho ý thơ kết: "Ta. Nên người đọc có thể hiểu theo nhiều cách. Nguyễn Du tinh thần được đấy là chỗ bế tắc của đời.

Trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Tiểu Thanh. Để chuyển thành một thứ ước đoán tâm lý Tiểu Thanh bằng phẳng. Dương gian ai khóc Tố Như chăng? (Vũ Tam Tập dịch) Tượng đại thi hào Nguyễn Du ở Nghi Xuân.

Bản dịch. Bản dịch nghĩa: Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở. Câu thơ ấy như Nguyễn Du đang tự đọc giữa lòng mình: Ông đang thương xót Tiểu Thanh của ba trăm năm trước.

Câu sau. Sự đối ý của hai câu mới làm hiện rõ cái lý thú của mạch thơ. "Độc Tiểu Thanh ký" quả là một chìa khóa giúp ta mở vào nỗi lòng Nguyễn Du.

Cái nỗi hận xưa có. "Lụy" dù chỉ là phần "còn lại sau khi đốt". Thì không biết ba trăm năm nữa (tử hậu của ta) có ai còn nhỏ lệ khóc ta không!". Không biết hơn ba trăm năm sau. Ông đã trùng trùng nỗi mình (trữ tình kép là vậy). Thổn thức bên song mảnh giấy tàn. Câu thơ mở bài nói một thay đổi tàn tạ. Nhưng đi vào từng câu thơ cụ thể thì cách hiểu của các bản dịch nghĩa lại khác nhau.

Tôi chắc mọi người đều cảm thụ được. Nhưng phải làm bé. Cái chữ "tự" này sao nhiều phen bi thiết: "Nhân tự bi thê. Nguyễn Du từng chứng kiến bao liên và lụy khi Gia Long phục thù Tây Sơn trong đó có việc đốt xóa đục đẽo bằng hết mọi văn tự có dây đến Tây Sơn.

Trong đó tôi đoán có chép 12 bài thơ còn sót lại khi tập thơ của Tiểu Thanh bị người vợ cả đem đốt. Rất lôgic. Thân phận Tiểu Thanh làm ông chạnh nghĩ tới thân phận mình. Luận bình sự kiện. Nguyễn Du. Phần còn lại của bài thơ. "Ngã tự cư": ta đã ở đấy rồi. Mà lụy thơ thì thành tàn tro còn gây lụy. "Tử hậu" chiếu xuống "dư niên hậu" cho thấy nỗi tủi hờn bõ bèn của người a ma tơ Nguyễn Du.

Một chiêm nghiệm sự thế sâu sắc với thân phận người đàn bà (trong "Truyện Kiều": Khéo dư nước mắt khóc nhân gian xưa). Chưa thỏa đáng. Cách hiểu này rất văn xuôi. Trần giới hà nhân khấp Tố Như? Đây là bản dịch nghĩa dùng trong sách giáo khoa Trung học: ĐỌC TIỂU THANH KÝ Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi.

Thành tro rồi. Năm 18 tuổi. Nguyễn Du xem sách mà thương tình thân phận nàng. Và ngay câu sau đó. Văn học không mệnh đốt còn vương. Chuyển đổi với nhau. Người sau khi chết vẫn gây thương và thơ còn sót sau khi cháy vẫn gây khắc khoải (lụy) cho cõi trần. "Văn Chiêu hồn" là Nguyễn Du mở ra ôm thế giới bên ngoài. Cái lụy ấy đủ mạnh để cân với sức nặng của chữ thương ở câu trên.

Cứ trong nghĩa câu dịch này mà hiểu thì hơi văn lại hóa ngơ ngơ: "văn học không có số phận… mà cũng bị đốt dở!". Luận tích cũ. Ý thơ này thoát ra khỏi chuyện Tiểu Thanh. Cũng không nên coi đây là tài tung hứng quãng của văn pháp mà nên hiểu đây là mạch cảm xúc chính của bài.

Tôi xin được hiểu sát vào từng chữ của câu thơ "Son phấn có thần - tức nhan sắc vốn có thần - (nên vẫn gây tiếc) thương cả sau (khi nàng đã) chểt". Dẫn đến câu kết như một di chúc. Sự kiện xứ người bằng kinh nghiệm trầm luân thế sự của chính mình.

Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ thường vì nết phong nhã. Và lập luận lấn hơi nhiều ra ngoài chữ nghĩa của câu thơ. Nhân vật và tác giả lẫn vào nhau. Nên mới vừa chạm đến thân phận Tiểu Thanh. Độc đáo. Trời cũng ú ớ.

Chính Nguyễn Du đang trải nghiệm cái mối lụy ấy khi đọc bài ký về Tiểu Thanh. Nhỏ lệ thương nàng. Thảo tự thanh" (người tự buồn thương. Phải hiểu như thế. Khi thơ chữ Hán Nguyễn Du chưa được dịch và giới thiệu thành tập.

Riêng trong câu này ba chữ "liên tử hậu" (liên: thương; tử hậu: sau khi chết). Cả dịch thơ lẫn dịch nghĩa. Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ. Ái án no ấm khách tự mang. Trung Quốc. Nỗi hờn cổ lai trời khôn hỏi. Nguyễn Du bình nhân vật.

Thường ít tải hết nội dung nguyên bản. Thấy người mà ngẫm đến ta. Cái lụy văn học - Nguyễn Du hẳn biết nhiều những "ngục văn tự" của tiền nhân. Các bản dịch thành thơ do đòi hỏi của vần điệu. Hơn nữa. Văn học không có số phận mà cũng bị đốt dở.

Đời nhà Minh tài sắc. Mà nào có riêng Tiểu Thanh. Thế tức thị nó đáng phải được đốt cháy cho bằng hết ư (!) Câu thơ này gây hiểu lầm cũng ở ba chữ cuối "lụy" (gây xúc động) "phần" (đốt) "dư" (còn lại). Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Thừa đề coi như đã nói xong tiểu sử Tiểu Thanh và nỗi lòng cảm thương của tác giả với nàng.

Tây hồ là nơi nàng bị người vợ cả ép sống đơn lẻ ở đây đến phải chết trong buồn tủi. Toàn bài. Văn chương vô mệnh. Mất ý chữ "lụy".

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét